Quy định về đại diện pháp luật

ĐIỀU KIỆN ĐỂ LÀM NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHÁP LUẬT

Ngày 26 tháng 11 năm 2014, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII, đã thông qua Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 và chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2015. So với Luật Doanh nghiệp hiện hành (Luật Doanh nghiệp 2005), Luật Doanh nghiệp 2014 đã có những quy định mới được đánh giá cao, mang nhiều tích cực và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp. Một trong những quy định mới của Luật Doanh nghiệp 2014 là Điều 13 và Điều 14 quy định về Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Người đại diện theo pháp luật trước hết được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005. Cụ thể, Điều 140 Bộ luật Dân sự có quy định về “đại diện theo pháp luật” như sau: “Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định”. Theo đó, Khoản 4 Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2005 đã đưa ra khái niệm về “Người đại diện theo pháp luật” là:“Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Dựa trên khái niệm đó, Luật Doanh nghiệp đã xây dựng lên khái niệm về “người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” là: cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng Tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Vậy Luật Doanh nghiệp 2014 có điểm gì mới, tiến bộ hơn về “người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” so với Luật Doanh nghiệp 2005?

Thứ nhất, so với Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 đã có một điều khoản chung để quy định về vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (Điều 13, Điều 14), thay vì nằm rải rác ở nhiều điều như luật hiện hành. Việc quy định chung như vậy sẽ giúp người tìm hiểu dễ dàng nắm bắt thông tin, dễ áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp.

Thứ hai, Luật Doanh nghiệp 2005 quy định công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và công ty Cổ phần chỉ có 1 người đại diện theo pháp luật của công ty ( Điều 46, Điều 67 đối với công ty TNHH và Điều 95 đối với công ty Cổ phần). Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp 2014 lại quy định: Công ty TNHH và công ty Cổ phần“có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”. Trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới, ở Việt Nam ngày càng có nhiều doanh nghiệp lớn, làm xuất hiện những nhu cầu. Trong đó có nhu cầu nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh khác nhau mà bản thân cá nhân một người không thể đảm nhận hết vai trò quan trọng ấy. Quy định mới này góp phần đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp, theo đó điều lệ công ty sẽ quy định cụ thể về số lượng, chức danh quản lý, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Thứ ba, đối với công ty Cổ phần, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã bỏ đi quy định “Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác” (Điều 116 Luật Doanh nghiệp 2005) trừ quy định tại khoản 8 Điều 100 Luật Doanh nghiệp 2014. Việc bỏ đi quy định này sẽ không làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của cá nhân trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, đồng thời sẽ đáp ứng được các yêu cầu của các doanh nghiệp lớn.

Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2014 còn nhiều quy định tiến bộ về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, được quy định cụ thể, chi tiết tại Điều 13 như sau:

 “- Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

- Trường hợp hết thời hạn ủy quyền theo khoản 3 Điều này mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì thực hiện theo quy định sau đây:

+ Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trở lại làm việc tại doanh nghiệp;

+ Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của công ty trở lại làm việc tại công ty hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

- Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

- Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa án”.

Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời, đã đáp ứng được các nhu cầu thực tiễn của các doanh nghiệp, nó được đánh giá là một sự thay đổi mới với nhiều điểm tiến bộ, tích cực hơn Luật Doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, bên cạnh các điểm tích cực, tiến bộ đó thì một số quy định của Luật doanh nghiệp mới vẫn còn bộc lộ những hạn chế cần phải khắc phục để mang lại hiệu quả cao hơn.

Hãy liên hệ với VLAW để được cung cấp dịch vụ pháp lý tốt nhất với chi phí thấp nhất!
Điện thoại tư vấn miễn phí 091 3167316
VLAW- Nơi uy tín để gởi trọn niềm tin "

 

0913167316

0913167316